Thứ Sáu, ngày 18 tháng 3 năm 2011

Ảnh hưởng của thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là một thành tựu văn học đặc sắc trong kho tàng thơ ca Quốc âm Việt Nam thời trung đại. Từ khi ra đời đến nay đã gần hai trăm năm nhưng thời gian vẫn không làm lu mờ những giá trị thẩm mỹ trong những bài thơ Nôm truyền tụng của nữ sĩ Xuân Hương.
 Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự độc đáo trong hồn thơ của Bà chúa thơ Nôm là nữ sĩ đã vận dụng tài tình nhiều yếu tố văn học dân gian như điểm nhìn thẩm mỹ văn hoá dân gian, ngôn ngữ “tỏ lòng” gần gũi với ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca dân gian, cách dùng nhiều đại từ nhân xưng “em”, đại từ phiếm chỉ “ai” rất giống với ca dao, cách sử dụng ngoa ngữ (tiếng chửi) trong văn hoá dân gian Việt Nam để sáng tác những câu thơ có tính chất bộc lộ thái độ mạnh mẽ. Đặc biệt, nhà thơ rất thành công trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo tục ngữ, thành ngữ, ca dao, câu đố vào thơ mình. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến nghệ thuật sử dụng tục ngữ, thành ngữ của Bà chúa thơ Nôm.
Trong các tác giả thơ Nôm Đường luật, Hồ Xuân Hương là người sử dụng thành ngữ, tục ngữ với tỉ lệ cao nhất. Tìm hiểu 41 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy có 14 bài đã tiếp thu, vận dụng thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (chiếm tỉ lệ 34%), trong đó có 8 bài thơ vận dụng thành ngữ, có 6 bài thơ vận dụng tục ngữ và 1 bài phối hợp sử dụng cả thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt.
1. Nghệ thuật sử dụng thành ngữ
 Hồ Xuân Hương sử dụng thành ngữ rất linh hoạt. Không ít trường hợp nữ sĩ đã tiếp thu nguyên vẹn và sử dụng toàn phần thành ngữ bằng cách đặt nó vào vị trí trong hai vế của câu thơ bảy chữ.
Ví dụ:
 -“Bảy nổi ba chìm” trong câu “Bảy nổi ba chìm với nước non” (Bánh trôi nước).
- “ Bạc như vôi” trong câu “Đừng xanh như lá bạc như vôi” (Mời trầu).
      - “ Cố đấm ăn xôi” trong câu “Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm” (Làm lẽ).
      - “ Năm thì mười hoạ” trong câu “Năm thì mười hoạ hay chăng chớ” (Làm lẽ).
      - "Nặng như đá đeo” trong câu “Cái kiếp tu hành nặng đá đeo” (Kiếp tu hành).
Nhưng điều phổ biến trong quá trình tiếp thu và vận dụng thành ngữ của Hồ Xuân Hương để sáng tạo nghệ thuật là có rất nhiều thành ngữ tiếng Việt đã được nhà thơ “bẻ vụn đan cài vào” hệ thống ngôn ngữ tác phẩm, có nhiều bài thơ chỉ sử dụng một số chi tiết của thành ngữ.
Ví dụ:
 - “Đỏ lòng xanh vỏ” và “Đỏ như son” trong bài Bánh trôi nước.
           - “Phải duyên phải kiếp” và “Xanh như tàu lá” trong bài Mời trầu.
           - “Đứt đôi con nòng nọc” trong bài  Khóc Tổng Cóc.
           - “Có tiếng không có miêng”, “Gặp chăng hay chớ”, “Làm mướn không công” trong bài Làm lẽ.
           - “Tài tử giai nhân” trong bài Tự tình I .
           - “Trái gió trở trời” trong bài  Kiếp tu hành.
            Nhờ vận dụng linh hoạt thành ngữ tiếng Việt trong sáng tác nghệ thuật, Hồ Xuân Hương đã nêu bật, nhấn mạnh rõ hơn ý nghĩa của các từ cần biểu đạt trong từng câu thơ bảy chữ và làm cho hệ thống ngôn từ mỗi bài thơ Nôm Đương luật thêm đa dạng, biến hoá, sinh động, hấp dẫn. Không chỉ thế, “Hồ Xuân Hương đã “tâm trạng hoá” thành ngữ, làm cho thành ngữ in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của bà”(Lã Nhâm Thìn).
Trong bài Bánh trôi nước, nhờ vận dụng thành ngữ tiếng Việt, Hồ Xuân Hương đã thể hiện rõ quan niệm tiến bộ về nữ giới. Dù phải sống cuộc đời gian truân vất vả, dù có thể bất lực trước số phận, trước hoàn cảnh nhưng trong tâm hồn người phụ nữ vẫn luôn luôn có ý thức vượt lên, vươn tới làm chủ nhân cách, làm chủ tình cảm để sống nhân hậu, thuỷ chung với cuộc đời. 
Ở bài  Mời trầu, bằng việc sử dụng tính từ chỉ màu sắc trong một số thành ngữ tiếng Việt để nhấn  mạnh sự đối lập giữa màu trắng (“bạc”) của vôi, màu xanh của lá trầu khi miếng trầu mời khách vẫn chưa được khách ăn với màu đỏ (“thắm”) của miếng trầu khi đã được người ăn, Hồ Xuân Hương đã diễn tả thật tế nhị lời mời khách hãy nhận miếng trầu “của Xuân Hương” tự tay têm lấy và chân thành mời. Mặt khác, đằng sau lời mời niềm nở, thân tình ấy còn ngân vọng một lời tỏ tình kín đáo, giao duyên nồng nàn, đằm thắm của một cô gái - một Hồ Xuân Hương đang sống cô đơn giữa cuộc đời nhưng trong lòng đang ấp ủ biết bao khát vọng cháy bỏng về tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng son sắt…
Ở bài  Kiếp tu hành, nhờ kết hợp vận dụng thành ngữ với biện pháp “nói lái” (“đá đeo”, “ trái gió”), nữ sĩ đã đả kích sâu cay, mạnh mẽ chủ nghĩa diệt dục khổ hạnh của Phật giáo đẩy con người vào tình thế bi kịch.
Trong bài Làm lẽ, nhờ sử dụng khéo léo 5 đơn vị thành ngữ tiếng Việt: “Năm thì mười hoạ”, “có tiếng không có miếng”, “cố đấm ăn xôi”, “làm mướn không công”, “gặp chăng hay chớ” kết hợp với phép đối ngẫu của thi luật thơ Đường trong các câu thực và câu luận, nhà thơ đã phản ánh chân thực và xúc động những thiệt thòi, bất hạnh của phụ nữ trong thân phận lẽ mọn với thái độ bất bình, phản kháng chế độ đa thê ngự trị một cách dai dẳng và khắc nghiệt trong xã hội phong kiến.
2. Với tục ngữ tiếng Việt, Hồ Xuân Hương đã tiếp thu và vận dụng vào trong hệ thống cấu trúc ngôn ngữ của những bài thơ Nôm Đường luật viết về đề tài nhân sinh và xã hội là chủ yếu. Về mặt hình thức, tục ngữ tồn tại dưới dạng “một câu nói có vần hoặc không có vần”. Do đó, khi tiếp thu vận dụng vào quá trình sáng tạo nghệ thuật, Hồ Xuân Hương ít khi sử dụng toàn phần câu tục ngữ mà thường chẻ nhỏ, chắt lọc lấy những chi tiết nổi bật, những yếu tố cần thiết, những từ ngữ quan trọng cho việc thể hiện hình tượng và bộc lộ thái độ.
         Ví dụ: - Ý câu tục ngữ “Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi” được đưa vào câu thơ “Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé” (Khóc Tổng Cóc).
- Ý câu tục ngữ “Thăm ván bán thuyền” được đưa vào câu thơ “Ấy ai thăm ván cam lòng vậy”(Tự tình III).
- Ý câu tục ngữ “Không chồng có chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa thế gian sự thường” được đưa vào câu thơ “ Không có nhưng mà có mới ngoan”(Sự dở dang).
- Ý câu tục ngữ “Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu” được đưa vào câu thơ “Chúa dấu, vua yêu một cái này”(Vịnh quạt).
- Ý câu tục ngữ “Hang hùm ai dám mó tay” được đưa vào câu thơ “Chốn ấy hang hùm chớ mó tay”(Trách Chiêu Hổ).
Trong số những bài thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương có vận dụng tục ngữ tiếng Việt để cấu trúc ngôn từ tác phẩm thì  Khóc Tổng Cóc  Thiếu nữ ngủ ngày là hai bài thơ rất đậm nét dấu ấn cá tính sáng tạo nghệ thuật của Bà chúa thơ Nôm. Bài “Khóc Tổng Cóc”, nhờ phối hợp vận dụng thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt một cách sáng tạo cùng với nghệ thuật điệp từ (từ chàng được nhắc lại ba lần), nghệ thuật chơi chữ[ dùng từ đồng nghĩa cóc, chàng (chẫu chàng), bén (nhái bén), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc)], Hồ Xuân Hương đã thể hiện rất độc đáo và cảm động nỗi đau đớn, tuyệt vọng của người vợ trước tang chồng, người vợ đang sống trong một tâm trạng không bình thường, không còn làm chủ được lí trí cho nên vừa khóc vừa cười. Cười trong khóc, khóc bằng cười, vì khóc mà cười.
Bài thơ  Thiếu nữ ngủ ngày, Hồ Xuân hương không chỉ dùng nhiều từ thuần Việt mà còn dùng cả từ Hán Việt, không chỉ sử dụng điển cố Hán học mà còn vận dụng cả tục ngữ tiếng Việt để khắc hoạ vẻ đẹp thân thể của một thiếu nữ trẻ trung, đầy sức sống. Bằng nghệ thuật tương phản chiếu ứng, nữ sĩ đã miêu tả những rung động trong tâm hồn nhân vật người quân tử khi được chiêm ngưỡng một “toà thiên nhiên”. Trong bài có cụm từ “ngủ ngày” làm vị ngữ trong đầu đề bài thơ đồng âm với cụm động từ trong câu tục ngữ tiếng Việt:
+ “Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm”
+ “Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày thì được nửa gang”
            Ngủ ngày trong tục ngữ là chỉ việc ngủ rốn, ngủ dậy muộn khi trời đã sáng rõ của kẻ lười nhác cần phê phán. Còn ngủ ngày trong đầu đề bài thơ chỉ việc ngủ buổi trưa của thiếu nữ. Việc này chẳng có gì phải phê phán cả. Cụm từ ngủ ngày trong bài thơ của Hồ Xuân Hương có ý nghĩa khác với ngủ ngày trong các câu tục trên. Vì vậy, bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày là một khám phá độc đáo của Hồ Xuân Hương về vẻ đẹp hình thể có giá trị nhân văn của con người trần thế.
Tóm lại: Hồ Xuân Hương là nhà thơ đã tiếp thu đến mức tối đa và vận dụng đến độ thành thạo, điêu luyện nhất những chất liệu của văn học dân gian vào cấu trúc nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Đây là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương.   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét