Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4 năm 2011

Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh

LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC

          Sách “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại”, tập 1, Nxb Giáo dục, 1997.
Nguyễn Đăng Na chọn dịch 6 truyện từ bản VHv.1401 của Viện Hán Nôm và tuyển 9 truyện do Hoàng Hưng dịch, in trên tạp chí Hán Nôm số 1-1990.
Sau đây, chúng tôi tóm tắt 15 truyện trong sách trên.

1. TRẠNG NGUYÊN HỌ NGUYỄN
Nguyễn Đăng Đạo người làng Hoài Bảo, huyện Tiên Du, năm 19 tuổi lên kinh du học. Ngày Nguyên tiêu đến chơi chùa Báo Thiên gặp một cô gái đi lễ chùa rất xinh đẹp. Anh ta ngây mắt ngắm nhìn. Khi xe đầy cô về, anh theo đến tận phủ. Dò la hàng quán bên đường, anh ta biết đó là tiểu thư con quan Ngô hầu, chỉ huy quân cấm binh.
Suốt đêm ấy luôn tơ tưởng. Sáng hôm sau lại đến cổng phủ, đem hoa quả cho bọn tiểu đồng để làm quen và hỏi kĩ về đường đi lối lại trong phủ.
Một đêm, anh ta trèo rào, đục tường vào phòng cô gái rồi chui vào giường ngủ chung. Cô gái giật mình sợ hãi nhưng khi biết đó là chàng trai đã gặp ở chùa Báo Thiên hôm trước nên không gọi người nhà mà bảo hãy đi ra nhanh. Anh ta chẳng những không sợ hãi mà còn ngăn cản cô ra khỏi phòng. Thấy vậy, người hầu bèn báo với quan. Ông nổi giận, sai đầy tớ bắt trói lại, đợi sáng mai giải đến pháp quan trị tội.
Sáng hôm ấy, có bạn đồng môn họ Phạm tới chơi. Ngô hầu kể lại đầu đuôi câu chuyện với thái độ giận dữ. Ông Phạm bảo hãy thử tài anh ta xem sao. Khi ông Phạm vừa ra đề, anh ta liền phóng bút thảo ra bài văn rất hay. Ngô hầu bèn tha tội, sai làm nhà cho ở riêng, cấp tiền cho ăn học. Năm sau, anh ta đỗ đầu thi Hương. Ngô Hầu cho làm lễ ở rễ. Năm sau nữa đỗ đầu thi Hội và khi thi Đình đỗ Trạng Nguyên.

2. CHUYỆN TÌNH Ở THANH TRÌ
Nguyễn sinh người Thanh Trì, khôi ngô tuấn tú nhưng nhà nghèo nên phải nghỉ học làm nghề lái đò. Chàng có giọng hát rất hay, khiến người nghe phải ngây ngất.
Cô con gái nhà giàu họ Trần bên bờ sông say mê giọng hát của chàng. Khi nhìn thấy mặt chàng, không sao quên được, bèn sai con hầu đem khăn đến tặng  và bảo chàng hãy nhờ người mối manh đến hỏi.
Chàng đem chuyện nói với mẹ. Vừa nghe, bà đã bảo: nhà ta nghèo sao dám mơ đến con phú ông. Nhưng chàng thuyết phục mãi, bất đắc dĩ, bà phải nhờ người hàng xóm đến dạm hỏi. Phú ông cự tuyệt. Chàng phẫn chí bỏ nhà đi làm ăn xa.
Cô gái biết cha mình cự tuyệt cuộc hôn nhân chỉ vì nhà chàng nghèo nên cô lấy trộm 100 lạng vàng, sai người đưa đến tặng chàng làm đồ sính lễ, Nhưng khi đưa đến thì chàng đã đi rồi. Quá đau buồn, nàng sinh bệnh, thuốc men chữa mấy cũng không khỏi. Trước khi mất, nàng nói với cha: “Trong người con chắc có một vật lạ. Sau khi con mất, xin cha cho hỏa táng để xem đó là vật gì”.
Người cha làm theo lời con gái dặn và thấy sót trong đống xương tàn một vật to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng không phải đá, trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối đá ấy có một con đò. Trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang nằm hát. Ông bèn đống một cái hộp bỏ vật này vào rồi đặt bên giường con gái.
Lại nói, Nguyễn sinh lên Cao Bằng làm khách cho nhà trấn tướng. Nhờ có giọng hát hay nên được trấn tướng quí trọng. Chàng kiếm được nhiều tiền. Khi đã tích góp được 200 lạng vàng, chàng trở về. Đến làng, chàng mới hay cô gái đã qua đời. Chàng làm lễ đến điếu nàng và xin phú ông cho xem di vật trong hộp. Lạ thay, khi những dòng nước mắt chàng trào xuống thì vật đó tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.

3. SỐNG LẠI
Đào sinh đẹp trai, học giỏi. Nhà nghèo nên chàng không thể đón thầy về dạy trong nhà mà phải theo học với một ông cử ở làng bên. Gần nơi chàng ở có một cô gái con phú ông rất xinh đẹp. Thình thoảng gặp cô, sinh chọc ghẹo nhưng cô không nói gì. Một đêm ngồi đọc sách, chàng nghe tiếng thoi dệt trong phòng cô. Thấy cô ngổi một mình, sinh bèn gõ cửa xin vào để bày tỏ nỗi lòng hoài thương của mình. Cô gái nói chuyện hôn nhân do cha mẹ sắp đặt và khuyên chàng nên tìm mối manh đến hỏi.
Bố cô gái là người ô trọc, ngu xuẩn, thấy chàng nghèo nên từ chối. Chàng vừa buồn, vừa bực, bỏ lên kinh đô học. Ba năm sau, thi Hương đỗ đầu. Chàng về nhà thì mới hay cô đã lấy chồng. Một lần đi qua cánh đồng, chàng gặp cô đưa cơm cho chồng. Hai người trò chuyện rất thân mật. Chồng cô ghen, lỡ tay đánh chết vợ. Vài hôm sau, chàng mới biết. Nhân đêm tối, chàng mới lén đem rượu thịt đến mộ cúng. Bỗng nghe tiếng động dưới mộ. Đào lên thì thấy cô hơi động đậy, sờ người thấy còn ấm. Sinh cho lấp mộ có quan tài rỗng lại rồi đưa cô gái về chữa chạy. Nửa đêm hôm đó, thổ ra vài đấu huyết, cô gái tỉnh lại. Đào sinh gửi cô ở nhà một người bạn, nói dối đó là vợ chàng cưới hồi ở kinh.
Một lần cô gái đi chợ, gặp chồng cũ. Anh ta nhận ra vợ mình liền phát đơn kiện Đào sinh. Lúc lên công đường, Đào sinh và cô gái kể hết câu chuyện. Quan khiển trách tên nông phu và phán cô gái là vợ của Đào sinh.

4. CA SĨ HỌ NGUYỄN
Quan Thượng thư Vũ Khâm Lân từ nhỏ đã thông minh, học giỏi. Ông mồ côi mẹ, phải sống với dì ghẻ độc ác. Bà ta bắt ông bỏ học để đi chăn trâu, làm ruộng. Không chịu nổi cơ cực đó, ông bỏ nhà ra đi. Đến Từ Liêm, Lân xin vào học với một ông cử. Ông học giỏi nhất lớp.
Một lần cùng bạn bè đi trẩy hội, xem hát, Lân được cô ca kĩ họ Nguyễn xinh đẹp, hát hay để ý. Hôm sau, cô đến chỗ Lân ở hỏi han, biếu quần áo, tiền bạc. Từ đó, cứ độ vài tháng cô lại đến thăm Lân. Có khi ở lại ban đêm để may vá, nấu nướng giúp Lân chứ không có gì vớ vẩn.
Trường thi sắp mở hội, Lân trở về quê để đi dự thi. Hành trang, tiền bạc cô đều chuẩn bị chu đáo cả.
Năm ấy, Lân thi đỗ đầu tỉnh. Bố anh mừng lắm, bèn bàn chuyện hôn nhân. Ông muốn hỏi cho Lân một cô gái con người thế tộc. Lân khước từ và kể lại mối tình của mình với cô gái hát nọ. Bố giận dữ quát mắng, vì thế Lân bất đắc dĩ phải nghe lời.
Năm sau, Lân đi thi Hội. Cô gái đem đồ rất hậu đến biếu. Lân hoảng hốt chưa biết nói sao thì cô bảo đã biết hết. Từ đó, họ không gặp nhau nữa.
Khi đã làm quan to, một lần đến chơi nhà Thích An hầu Phạm Quí Thích, ông gặp cô gái đang hát ở đó. Sau khi nghe cô kể hết sự tình, Lân vô cùng cảm thương, đón hai mẹ cô và cô về một nơi ở riêng, chu cấp đầy đủ. Một năm sau, mẹ cô mất. Tang mẹ xong, cô từ biệt ra đi, giữ lại không được, tặng quà không nhận.

5. RỒNG
Một xã thuộc huyện Kim Thành có con sông lớn chảy qua. Giữa khúc sông uốn cong là một cái vũng sâu. Trong vũng có một cái hang rồng. Ai không biết đến đó liền bị rồng ăn thịt.
Một lần, có hai vợ chồng người hát rong đến làng. Cô vợ xuống sông rửa chân bị rồng bắt mất. Người chồng rất đau buồn và tức giận. Anh ta đi khắp vùng mua về vài nghìn quả trứng vịt. Anh dùi trứng thủng một lỗ, dốc hết lòng trắng, lòng đỏ vào vò rồi lấy vôi sống tán nhỏ bỏ vào trong vỏ trứng. Xong lấy giấy dán lại.
Hôm sau, anh ta rải trứng khắp bãi cát bên sông, lấy lòng đỏ trứng vẫy lên trên, lấy sào khuấy nước cho động lên. Sau đó nấp trên cây theo dõi. Lập tức một con rồng mẹ và hai con rồng con quẫy nước nổi lên. Chúng bò lên bờ nuốt trứng vào bụng. Khoảng một giờ sau, dòng sông cuộn sóng.
Sáng hôm sau, ba con rồng chết nổi trên mặt nước. Anh ta mổ bụng con rồng mẹ lấy xác vợ mình ra chôn cất. Từ đó, việc rồng hại người chấm dứt.

6. LIÊN HỒ QUẬN CÔNG
Cung Bảo Thượng thư, tước Quân công khi chưa thành đạt làm nghề dạy học. Trong lớp học của ông có hai người con của mỗ Quận công. Người con trai bướng bỉnh, phóng đãng còn người con gái thông tuệ, xinh đẹp tuyệt trần. Sau khi mỗ Quân công mất, hai người con đi đâu không rõ.
Hai mươi năm sau, trong một lần công cán ở Lạng Sơn, có một người đàn bà xưng là học trò đến xin ra mắt. Hỏi họ tên thì ra đó là môn đệ cũ của Liên Hồ, con gái hoàng thân mỗ Quận công. Cô kể lại, sau khi cha mất, người anh nướng hết gia tài vào cờ bạc, rồi gả cô cho một kẻ thuộc biện. Cả hai cùng đi quân thú Lạng Sơn. 5 năm trước, chồng mất, của cải khánh kiệt, cô phải lấy nghề khâu vá kiếm sống nuôi con qua ngày. Nay đến nhờ đại nhan giúp cho trở về kinh thành để được nhìn thấy phần mộ tổ tiên.
Thượng thư đã sai gia nhân thuê xe, tặng tiền bạc cho cô trở về. Về tới kinh cô từ biệt ra đi.

7. LAN QUẬN CÔNG PHU NHÂN
Khoảng đời Sùng Khang (Mạc Mậu Hợp) ở huyện Đông Ngàn có ông họ Đàm, chức Thượng thư. Một hôm coi việc phủ đệ, thấy một chàng trai mặt mũi thanh tú đi làm phu muộn. Hỏi lí do, chàng bảo bận học. Ông ra vế đối: “Thập bát hùng năng đảm thổ” (18 người khỏe như gấu, có tài gánh đất), chàng trai đáp lại ngay: “Cửu ngũ long phi tại thiên” (45 con rồng bay ở trời). Ông biết người này có chí, về sau sẽ hiển đạt liền bào ba cô con gái ai tình nguyện lấy chàng. Hai cô chị xem mặt xong, từ chối. Riêng cô em nói: con gái đâu tự kén chồng. Cha bảo lấy ai thì con lấy.
Sau đó, ông gả con gái út cho Nguyễn Thực. Từ đó, chồng đèn sách, vợ dệt vải. Nhưng Nguyễn Thực chỉ đỗ thi Hương còn thi Hội lần nào cũng trượt. Vợ chồng họ vẫn sống trong cảnh bần hàn. Do đó, hai người chị lấy được chồng giàu, quyền thế rất coi khinh vợ chồng Thực.
Sau khi nhà Lê khôi phục lại được giang sơn, Nguyễn Thực mới thi đỗ đầu, ra làm quan. Bấy giờ, 2 người chồng của chị vợ làm quan cho nhà Mạc bị bắt giam phải đến nhờ Nguyễn Thực cứu giúp.
Mấy năm sau, con trai ông thi đỗ. Hai cha con cùng làm quan to trong triều. Ông làm đến tước Quân công và được phong là Lan Quận công.

8. ÔNG TIÊN ĂN MẦY
Nguyễn Ất mồ côi cha mẹ, phải sống với anh là Giáp. Tính Giáp tham lam, keo kiệt. Chị dâu cũng thô bạo, xấu xa. Khi ra ở riêng, họ chiếm gần hết gia tài chỉ để cho Ất gian nhà nát và mảnh ruộng xấu. Ất phải đi làm thuê. Anh thường làm cho phú ông ở làng bên. Phú ông có một mảnh đất hoang, Ất xin ra ở đó và bán ngôi nhà cũ của mình. Tuy nhà nghèo nhưng Ất thường làm việc thiện.
Một hôm, đi làm về, anh thấy một người ăn mày rách rưới, ốm đau, tanh tưởi nằm trước của nhà mình. Ất dìu vào, trải chiếu cho nằm, nấu cơm cho ăn. Sáng hôm sau, anh chuẩn bị nấu cơm thì ông già bảo lấy cái chén hứng lên mũi rồi lấy cán gáo đập vào mũi ông. Ất không chịu nhưng cụ bảo mãi liền đánh vài cái. Máu từ mũi cụ chảy ra thành một chén vàng. Từ đó, Ất trở nên giàu có, chuộc lại đất xưa, xây nhà mới. Người anh rất ngạc nhiên, đến dò hỏi. Sau khi nghe Ất kể cho biết, vợ chồng Giáp luôn để ý tìm ông ăn mày nọ.
Một lần đi làm về, họ thấy một cụ già ăn mặc rách rưới, khấp khiễng đi qua. Vợ chồng Giáp tranh nhau dìu cụ vào nhà, nấu cơm, mổ gà thết đãi.
Sáng hôm sau, cụ già xin từ biệt, Giáp giữ lại, đem nồi đặt trước mặt rồi lấy đục đánh vào mũi. Máu chảy lênh láng, cụ già kêu la thảm thiết, dân làng chạy đến. Thì ra đây là cha của anh bán tương. Họ liền báo cho con cụ biết. Anh ta nổi giận, đưa vợ chồng Giáp đến công đường. Quan phạt đánh đòn vợ chồng Giáp thật nặng.

9. TIÊN TRÊN ĐẢO
Nguyễn Lộc người Thanh trì, kết bạn với vài chục người, mua một chiếc thuyền để đi biển buôn bán.
Một lần, thuyền bị gió đánh dạt vào đảo giữa biển. Có một con hươu trong bụi chạy ra tranh lấy chiếc bè chèo. Mọi người vạch cỏ đuổi theo. Lộc một mình lạc vào rừng sâu thì bỗng có chục con hổ trong núi lao ra. Anh sợ hãi leo lên cây cao. Lát sau, hổ bỏ đi, Lộc nghe tiếng người cười nói gần đó. Đến nơi thì thấy hai cụ già đang đánh cờ trên phiến đá to. Có đứa hầu nhỏ đứng bên pha trà, dâng rượu. Khi cuộc cờ tàn, Lộc đến vái lạy và nhờ chỉ đường. Cụ già ra hiệu cho đứa hầu bẻ một cành cây đưa cho Lộc và bảo: “Cầm cành cây này mà đi, thuyền ở phía trước kia”. Lộc ra khỏi rừng mấy bước thì thấy thuyền đã ở đó. Mọi người trên thuyền không tin vào mắt mình vì chỗ này cách bến mấy trăm dặm, lại qua hai đêm rồi, làm sao mà Lộc đi về được. Lộc kể lại câu chuyện, mọi người đều kinh ngạc, cho đó là chuyện lạ.

10. CON HỔ CÓ NGHĨA
Bà đỡ Trần, người huyện Đông Triều, một đêm nọ nghe tiếng gõ cửa. Mở cửa, bà liền bị một con hổ lao tới cõng đi. Vào rừng sâu, hổ thả bà xuống. Bà nhìn thấy một con hổ cái đang lăn lộn sắp đẻ. Sẵn có thuốc trong túi, bà hòa nước cho hổ uống, dùng tay xoa bụng. Lát sau, hổ cái đẻ được. Hổ đực liền bới đất moi lên một cục bạc tặng bà. Sau đó dẫn bà đi ra khỏi rừng.
Người tiều phu ở huyện Lạng Giang đang bổ củi ở sườn núi thì thấy dưới thung cỏ cây lay động dữ dội. Đến nơi, bác thấy một con hổ trắng bị hóc xương đang lấy tay mọc họng. Tay to, càng móc thì xương càng vào sâu. Bác leo lên cây và kêu lên: “Đừng cắn ta, ta sẽ lấy xương cho”. Hổ nghe thấy, nằm phục xuống. Bác trèo xuống, thò tay vào miệng hổ lấy khúc xương ra. Mười ngày sau, hổ vác đến nhà một con nai tặng bác. Khi bác mất, hổ đến trước mộ nhảy nhót. Từ đó, mỗi dịp giỗ bác, hổ lại đưa dê, lợn đến để ngoài cửa nhà.

11. HANG NÚI GIỮA BIỂN
Ở lộ Quảng Yên có nhiều rừng và đảo. Có vài dân chái đi biển, bị gió đánh dạt vào một dãy núi. Họ đi lên đảo, gặp một hang sâu. Ngoài cửa hang có hai con chó đá. Vào trong thấy dụng cụ đều bằng vàng. Lên phòng thì thấy trên giường có năm thây người con gái đang ngồi đó. Lại gần thấy còn thở.
Có người lấy đồ vàng trở ra, đến cửa ngoài, chó đá sủa lên. Người trộm vàng hai mắt như mù, không đi ra được. Sợ hãi, bỏ vàng lại, vừa ra khỏi hang thì một phiến đá to rơi xuống, vít chặt miệng hang lại.

12. GẤU HỔ CHỌI NHAU
Ở huyện Lục Ngạn có Nguyễn mỗ làm nghề lấy gỗ. Một hôm, ở trong rừng sâu, Nguyễn ngả gỗ làm thuyền độc mộc. Trời rét, Nguyễn chất cỏ để nằm, lấy thuyền chụp lên người. Bên cạnh gom củi, đốt lửa sưởi. Nửa đêm tỉnh dậy thấy một con hổ nằm ngủ trên thuyền. Lát sau, thấy một con gấu đi tới, ngồi bên đống lửa. Nguyễn bèn còi một cục than to, gí vào lưng hổ. Bị bỏng, hổ vùng dậy, gầm lên cắn gấu. Gấu dùng vuốt cự lại. Lát sau lặng tiếng, Nguyễn lật thuyền đứng dậy thì thấy gấu đứt cổ, hổ lòi ruột chết.

13. THẰNG TRỘM
Huyện Gia Phúc, xứ Hải Dương là nơi đô hội. Thương nhân thường đến đây buôn bán và nghỉ lại điếm trọ. Ở thôn gần đấy có một tên trộm, biệt hiệu là “khóa mèo”.
Một hôm, có một ông khách trọ, hành lí rất nặng. Chủ điếm bảo gửi để họ giữ cho nhưng ông khách không chịu mà còn nói: “Tôi có vàng mà không giữ được vàng hay sao”. Nói xong, mở túi bày vàng bạc ra chiếu rồi bỏ vào hành lý đặt đầu giường. Tên trộm ở ngoài nhìn thấy hết. Đêm y khoét tường chiu vào nằm dưới giường giả làm trò mèo đuổi chuột. Không ngủ được, khách ngồi dậy đuổi chuột. Trộm vớ ngay túi bạc chuồn về nhà.
Trở vào thấy mất túi, khách liền mượn chủ điếm cái nơm đi bắt trộm. Ông ta trèo lên cây cao, nhìn ra xa thì thấy thôn bên có một ngôi nhà đèn còn đương sáng. Khách đi đến đó, mở tung cổng, tới nhà nhòm vào thì thấy hai vợ chồng tên trộm đâng đếm bạc. Khách gõ cửa và nói: “Em, trộm đây, nghe nói anh được món hời lớn, đến xin anh chia cho”. Tên trộm nổi giận, vác gậy ra đuổi. Khách vờ chạy rồi lẻn vào, láy nơm úp lên đầu vợ tên trộm, phá hòm lấy bạc đem về.
Bái phục, tên trộm đến xin làm học trò. Khách bảo ta trước cũng làm nghề này nhưng nay đã từ bỏ, hiện là người của Đô Đốc. Ông có theo về thì ta xin cất nhắc cho. Tên trộm xin lĩnh giáo. Vài năm sau được bổ làm suất đội, còn người khách năm xưa đã trở thành tham tướng Tây Sơn.

14. NGUYỄN QUỲNH
Nguyễn Quỳnh người xã Thượng Bột, huyện Hoằng Hóa, nổi tiếng văn hay, chữ tốt. Ông thường đến luyện văn ở nhà Quốc học, luôn được xếp hạng ưu nên rất tự đắc.
Một hôm, có một thư sinh trẻ đến luyện văn. Anh ta viết một mạch mấy tờ, thao thao không dứt. Khi Quỳnh đang khổ sở suy nghĩ thì anh ta đã xong. Mượn xem bài thì thấy tứ văn mới lạ, bản thân không bằng được. Quỳnh bèn bỏ bút làm quen, mời về nhà chơi nhưng thư sinh từ chối và hẹn ba ngày sau chờ chàng ở đình Quảng Văn.
Đúng hẹn, Quỳnh đến nơi thì thấy chàng đã chờ ở đó. Thư sinh dẫn Quỳnh về nhà chơi. Họ trò chuyện với nhau rất lâu, sau đó cùng ăn với nhau một bữa cơm đạm bạc. Đến chiều, quỳnh từ ra về. Thư Sinh tiễn đưa, rút hai bảy đồng tiền tặng và nói: “Dịp sau khó hẹn, xin tạm đỡ anh tiền rượu, nước đi đường” rồi từ biệt. Quỳnh ngoảnh lại thì thấy lớp lớp núi xanh, còn mình ở giữa tầng mây trắng, không có ngôi nhà nào cả. Quỳnh tìm được xuống núi, gặp người đi lấy củi, mới biết đó là núi Phượng Hoàng, đất Hải Dương cách kinh thành hơn hai trăm dặm. Sờ tay áo thấy tiền vẫn còn. Dọc đường mua trà, rượu hết một ít nhưng khi về đến kinh tiền còn lại biến đâu mất.

15. THÁP BÁO ÂN
Ở xã Bình Quân, huyện Cẩm Giàng xưa kia có một ông họ Nguyễn rất giàu có. Lúc tuổi cao ông sinh thêm một người con gái út rất đẹp. Năm 18 tuổi, cô gái bị bệnh phong, gia đình phải dựng một túp nhà nhỏ cạnh đường ngoài thôn cho cô ở riêng.
Một năm sau, có một ông cử người Kinh Môn đi thi Hội qua. Trời tối, mưa như trút nước, ông cử liền gõ cửa xin vào tá túc. Đêm hôm ấy, hai người ân ái với nhau rất nồng thắm. Hôm sau, ông phải đi sớm cho kịp kì thi, hẹn ngày gặp lại. Cô gái nghĩ mình bệnh hiểm, lúc trời sáng đâu được sánh với người tài hoa. Càng nghĩ bệnh cô càng thêm nặng, chỉ vài ngày sau thì mất.
Ông cử vào thi, bài làm có nhiều sai sót, tự biết mình khó đỗ nên về trước. Mười ngày sau, người nhà chạy về báo tin đỗ. Đến kinh, ông vào yết kiến quan chấm thi. Quan cho biết bài ông non kém, có nhiều chỗ sai sót nhưng khi ông vừa chợp mắt thì thấy một cô gái tự xưng là vợ ông cầm bài đến nhờ ông chiếu cố cho chồng cô nên mới cho đậu.
Hôm sau trở về, ông cử sắm lễ vật đến thăm ông họ Nguyễn, nhận là con rễ, xin được cải táng cho cô gái theo nghi lễ người vợ. Sau đó dựng một ngôi tháp chỗ đất nền nhà cũ, đặt tên là tháp Báo Ân.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét