Thứ Ba, ngày 10 tháng 5 năm 2011

VÀI NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỆN KIỀU

VÀI NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỆN KIỀU

Sau 20 năm nghiên cứu (1981-2001), GS.TS Trần Đình Sử đã ra mắt bạn đọc cuốn “Thi pháp Truyện Kiều”, dày 399 trang. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu Truyện Kiều về thi pháp. Công trình mở ra một chân trời mới mẻ cho giới nghiên cúu, học thuật và bạn đọc yêu thích tác phẩm cổ điển của nền văn học trung đại nước nhà. Chúng tôi, xin giới thiệu sơ lược vài nét về thi pháp Truyện Kiều trong Chuyên luận của Giáo sư.

            1. Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện của Nguyễn Du
a. Tư tưởng
            Truyện Kiều mở đầu bằng thuyết tài-mệnh: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” và kết thúc bằng sự trăn trở về tài-tâm: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Do đó, Truyện Kiều không chỉ là câu chuyện về “tài mệnh tương đố” mà còn là câu chuyện về chữ tâm, về mối quan hệ giữa tài và tâm.
Trong Truyện Kiều có rất nhiều người tài. Thuý Kiều là người “tài sắc”; Đạm Tiên: “nổi danh tài sắc một thì”; Kim Trọng: “bậc tài danh”, “thiên tài”; Từ Hải: “đấng anh hùng”, “anh hào”; đến cả khách du xuân cũng toàn người tài: “dập dìu tài tử giai nhân”… 11 người từ thầy tướng, Kim Trọng, Thúc Sinh đến viên quan xử kiện, Hoạn Thư đều thừa nhận tài của Kiều. Tất cả những người tài trong tác phẩm đều khổ đâu, bất hạnh.
Mặt khác, con người trong Truyện Kiều không chỉ đề cao tài mà còn đề cao chữ tâm, tấm lòng. Tấm lòng là nguyên tắc cao nhất mà mọi người phải nể nang, tôn trọng. Thuý Kiều và Kim Trọng nêu cao tấm lòng. Họ tự xưng và xưng nhau là lòng:
-  Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang
-  Trách lòng hờ hững với lòng
-  Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng
-  Để lòng thì phụ tấm lòng với ai
-  Thiệt lòng khi ở, đau lòng khi đi
-  Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen
Kiều với Đạm Tiên cũng thế:
Đã lòng hiển hiện cho xem
                     Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
Kiều tự tử ở sông Tiền Đường là để tạ lòng với Từ Hải: “Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông”.
Ngay cả những kẻ không có lòng hoặc lòng hờ hững hay lòng độc ác cũng nêu cao chữ lòng. Chúng mượn chiêu bài này để trà trộn vào thế giới đề cao tấm lòng. Chẳng hạn, Tú Bà: “Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi”; Sở Khanh: “Lòng này ai tỏ cho ai hỡi lòng”; Hoạn Thư: “ Đêm ngày lòng những giận lòng”,“Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra”.
b. Nhân vật
- Nguyễn Du vay mượn hệ thống nhân vật và sự kiện trong tác phẩm Kim Vân Kiều truyện vì vậy không tránh khỏi việc tiếp thu các thi pháp nhân vật vốn có của truyện Trung Quốc nhưng ông không chạy theo và phát huy các thi pháp ấy mà sáng tạo lại. Nguyễn Du không đặt trọng tâm ở việc mà ở “khúc đoạn trường”. Ông lược bỏ bớt chi tiết và làm cho tấm lòng nhân vật nổi lên. Từ trên cái nền ấy, Nguyễn Du thể hiện cái nhìn và quan niệm nghệ thuật của mình. Chẳng hạn, việc vu oan, Nguyễn Du chỉ nói có hai câu: “Hỏi ra sau mới biết rằng/ Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ”. Việc dự kiến đút lót, hối lộ cũng chỉ nói có hai câu: “Tính bài lót đó luồn đây/ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.
-  Nguyễn Du đã biến nhân vật chính từ con người đạo lý trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện thành con người tâm lý. Tuy nhiên, do sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến còn nặng nề nên ý thức cá nhân trong Truyện Kiều mới chỉ được biểu hiện ở khía cạnh “xót thân, đau lòng”. Yếu tố đạo lý vẫn còn nhưng trọng tâm đã chuyển sang mặt tâm lý.
c. Nghệ thuật kể chuyện
- Nguyễn Du đã thay đổi điểm nhìn trần thuật: không phải kể chuyện từ bên ngoài mà kể theo cái nhìn của nhân vật, từ tâm trạng của nhân vật. Từ điểm nhìn này nhà thơ tạo điều kiện cho nhân vật được bộc lộ tâm trạng.
- Nếu Kim Vân Kiều truyện thiên về kể việc thì Truyện Kiều thiên về tả tình. Chẳng hạn, đoạn Kiều gặp Kim Trọng, Nguyễn Du chỉ tập trung tả cảnh gặp mặt và cảnh chia tay mà lược bỏ các chi tiết Kim Trọng liếc hai Kiều, hai nàng về nhà gán ghép Kim Trọng cho nhau. Mặt khác, Nguyễn Du chuyển điểm nhìn trần thuật về cho Kiều, không tả Kim Trọng ngắm nhìn chân dung hai Kiều mà lại tả chân dung Kim Trọng dưới con mắt của hai Kiều. Đồng thời Nguyễn Du khai thác triệt để các tình tiết, biến cố để bộc lộ tình cảm nhân vật. Chẳng hạn, đoạn Kim Trọng chia tay Kiều về hộ tang chú, Kim Vân Kiều truyện chỉ nói: Kim Trọng than thở, Kiều an ủi, sau đó Kim Trọng gạt lệ ra đi, Kiều lấp lại lỗ hổng nơi bức tường, không hề lột tả được tình cảm thực của hai người khi tình yêu vừa bén. Trái lại, Nguyễn Du đã dùng tới 38 câu thơ lột tả cảnh chia tay với tất cả tình cảm đau đớn, rụng rời, lo âu, trống trải và cả dự cảm về tương lai ảm đạm (“Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng/ Băng mình đến trước đài trang tự tình/ …/ Trong chừng khói ngất song thưa/ Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng”).
- Người kể chuyện Truyện Kiều vừa giới thiệu, thuyết minh, miêu tả nhân vật, phong cảnh vừa bình luận, phân tích. Đây là người kể theo ngôi thứ 3 và thuộc loại “biết hết”. Con người này bộc lộ trực tiếp tình cảm, thái độ trong lời kể: có khi là sự mỉa mai: “Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”; có khi dí dỏm: “Cho hay là giống hữu tình/ Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong”; nhưng có khi rất thống thiết: “Chém cha cái số ba đào/ Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi”.
              2.  Quan niệm nghệ thuật về con người 
- Con người trong Truyện Kiều được xây dựng theo mô hình “con người vũ trụ”. Nhà thơ thường dùng những hình ảnh của thiên nhiên, trời đất làm chuẩn. Nói đẹp thì “hoa cười, ngọc thốt”, “hoa ghen, liễu hờn”; nói chí thì “đội trời đạp đất”; nói tình thì “non nước, mây mưa”, khi làm một bài thơ cũng “tay tiên gió táp mưa sa”, khi khóc lóc cũng “vật mình vẫy gió tuôn mưa”… Con người được hình dung trong một quy mô vũ trụ, đứng giữa đất trời. Theo quan niệm này, tính chỉnh thể của con người không thể hiểu một cách bề ngoài, trực quan. Chẳng hạn, chân dung Từ Hải với đặc điểm của ba giống vật: “Râu hùm, hàm én, mày ngài” nhưng không phải để châm biếm mà nhằm hé lộ một sức mạnh tiềm ẩn của người anh hùng xưa.
- Thái độ tôn xưng đối với loại người tài hoa. Đó là quan niệm con người “đấng bậc” chi phối sự cảm nhận và miêu tả: “đấng tài hoa”, “bậc tài danh”, “đấng anh hùng”, “bậc bố kinh”… (Đạm Tiên là “đấng tài hoa”, Kim Trọng là “bậc tài danh”, Từ Hải là “đấng anh hùng”, Thuý Kiều là “bậc bố kinh”). Những người này thường được khắc hoạ với những đường nét bề ngoài đầy ước lệ, khuôn sáo.
Ngược lại, những người bình thường hoặc quân vô loài thì được miêu tả theo đặc tính thực tế của chúng về nghề nghiệp, cá tính. Chẳng hạn, Mã Giám Sinh: “Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Còn Tú bà: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn chi cao lớn đẩy đà làm sao” rất trần trụi, hiện thực.
- Mặt khác, Truyện Kiều đã tiếp thu quan niệm “con người tỏ lòng” trong nghệ thuật truyền thống một cách sáng tạo. Quan niệm đó xem con người là sự thể hiện cho các giá trị tinh thần như chí, tình, đạo, nghĩa. Con người không chỉ luôn “ngôn chí”, “thuật hoài”, “hữu cảm” mà còn có những hành động, việc làm khác thường. Chẳng hạn như Kiều khóc mồ vô chủ, thuyết lý đức hạnh, thề nguyền chung thuỷ, bán mình chuộc cha, cậy em thay lời… ; Kim Trọng ốm tương tư, khóc lóc vật vã; Vương Ông đập đầu vào tường; Từ Hải chết đứng. Nguyên tắc tỏ lòng thường thể hiện ở biện pháp ngoại hiện. Tâm trạng nhân vật đều được thể hiện ra bên ngoài, ai nhìn cũng thấy: khóc thì “dầm dề giọt ngọc”, “vẫy gió tuôn mưa”; giận thì “nổi trận lôi đình”; buồn thì bạc tóc, hao gầy…
- Con người trong Truyện Kiều thường xuất hiện trong một phức hợp tâm lý (đồng hiện). Khi Kiều ngồi một mình “lặng ngắm bóng nga” cùng một lúc nàng đối diện với Đạm Tiên và Kim Trọng. Khi Mã Giám sinh bên nàng Kiều thanh tân, xinh đẹp cũng là lúc y phải đối diện với Tú Bà, khách làng chơi. Vì thế, tình cảm đối nghịch, lưỡng tính là nét tiêu biểu của nhiều nhân vật trong Truyện Kiều. Kiều vừa tranh thủ hạnh phúc vừa phấp phỏng lo sợ “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”; vừa nghi ngờ Sở Khanh vừa phải liều theo y chạy trốn…
3. Không gian nghệ thuật trong Truyện Kiều
- Truyện Kiều là một tiểu thuyết lưu lạc, kể về cuộc đời ba chìm bảy nổi của Thuý Kiều. Do đó, trong tác phẩm xuất hiện không gian xa lạ. Sau mỗi biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới đầy xa lạ, nhiều hiểm hoạ. Trong 15 năm, Kiều đã lưu lạc từ Bắc Kinh đến Lâm Truy (Sơn Đông), Vô Tích (Giang Tô), Châu Thai (Triết Giang) và Nam Bình (Phúc Kiến).
- Không gian lưu lạc của Kiều bắt đầu từ sau giấc mơ gặp Đạm Tiên: “Một mình lưỡng lự canh chầy/ Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh/ Hoa trôi bèo dạt đã đành/ Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!”.
- Không gian lưu lạc là không gian mà mọi mối liên hệ không còn. Con người không còn nơi bấu víu, trở nên lênh đênh, bơ vơ, vô định. Do đó, những hình ảnh “mặt nước cánh bèo”, “nước trôi hoa rụng”, “chiếc bách sóng đào”… được láy đi láy lại trong tác phẩm để chỉ thân phận lênh đênh vô định của Thuý Kiều.
4. Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều
- Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều là thời gian định mệnh. Cuộc đời bạc mệnh của Thuý Kiều đã được người tướng số đoán từ lúc nàng còn nhỏ (Nhớ từ năm hãy thơ ngây/ Có người tướng sĩ đoán ngay một lời/ Anh hoa phát tiết ra ngoài/ Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa) và cái kết cục ở sông Tiền Đường của nàng đã được Đạm Tiên, Tam Hợp, Giác Duyên biết từ hơn mười năm trước (Hãy xin hết kiếp liễu bồ/ Sông Tiền Đường, sẽ hẹn hò về sau). Đặc điểm của thời gian định mệnh là tất cả mọi sự kiện, chuyển biến, kết cục của đời người đều đã được định sẵn từ trước như một tất yếu khắc nghiệt.
- Thời gian trong Truyện Kiều là thời gian gấp khúc, với nhịp độ vội vàng. Thời gian hiện tại luôn ngắn ngủi, vì vậy mà hành động của nhân vật rất gấp gáp. Hành động nào của Kim Trọng, Thuý  Kiều, Từ Hải cũng gắn liền với chữ “vội”. Chẳng hạn, khi Kiều đến với Kim Trọng: “Bước chân thoăn thoắt dạo ngay mé tường”; “Cửa ngoài vội rủ rèm the/ Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” hoặc khi họ chia tay nhau: “Nàng thì vội trở buồng thêu/ Sinh thì dạo gót sân đào bước ra”.
Trong Truyện Kiều không chỉ có các nhân vật chính diện vội mà cả nhân vật phản diện như Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc bà, Bạc Hạnh, Hoạn thư, Hồ Tôn Hiến… cũng rất vội. Đó là cái vội của những kẻ làm trò lừa bịp, dối trá, muốn nhanh chóng trấn áp kẻ dưới để bảo vệ địa vị, uy quyền của mình.
Thời gian gấp khúc này vừa phản ánh tính chất dang dở, không trọn vẹn của tiến trình đời sống nói chung, của Kiều nói riêng vừa tô đậm tính chất vô lý, tàn nhẫn, phũ phàng của các thế lực đen tối. Nhịp điệu này quy định việc sử dụng nhiều các từ chỉ thời gian như: vội, vội vàng, kíp, kịp, thoắt, đã… và quy định cách sử dụng điệp từ trong tác phẩm.
- Truyện Kiều có thời gian 3 kiếp, phù hợp với quan niệm tu tâm của đạo Phật. Kiếp trước được nhắc đến nhiều nhưng không mang nội dung cụ thể. Kiếp hiện tại là 15 năm lưu lạc. Kiếp sau là cuộc đời của Kiều sau cái chết ở Tiền Đường. Lúc này Kiều thoát khỏi định mệnh: “Này thôi hết kiếp đoạn trường từ đây”. Tuy nhiên, do không đảo ngược được những mất mát, đau khổ nên dù đã chuyển sang kiếp khác nhưng những nỗi đau vẫn đeo bám Kiều, biến nàng từ một con người yêu đời trở thành người “đã không biết sống là vui” khi mới 30 tuổi.
5. Độc thoại nội tâm trong Truyện Kiều
- Độc thoại nội tâm và “dòng ý thức” là hai biện pháp nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết hiện đại. Độc thoại nội tâm là lời trực tiếp của nhân vật. Còn “dòng ý thức”  là hình thức độc thoại nội tâm tự do liên tưởng, không có mục tiêu đặc biệt nào, không có sự khống chế của logíc.
- Trong Truyện Kiều đã xuất hiện lời văn dạng “trực tiếp tự do”. Chẳng hạn, đoạn Vương Quan kể chuyện Đạm Tiên trong lời kể trực tiếp có chỉ dẫn và dẫn ngữ:
+ Lời chỉ dẫn:   Vương Quan mới dẫn gần xa,
+ Dẫn ngữ:        Đạm Tiên nàng ấy vốn là ca nhi.
                                    Nỗi danh tài sắc một thì,
                        Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.
Kiếp hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
                       
Trong lời kể trực tiếp của Vương Quan có xuất hiện lời độc thoại nội tâm của người khách viễn phương: “Khéo vô duyên bấy là mình với ta/ đã không duyên trước chăng mà/ Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau”.
- Trong Truyện Kiều cũng có dòng ý thức. Chẳng hạn, đoạn Kiều: “Trông xem đủ mặt một nhà/ Xuân già còn khoẻ, huyên già còn tươi/ Hai em phương trưởng hoà hai/ Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa/ Tưởng bây giờ là bao giờ/ Rõ ràng mở mặt còn ngờ chiêm bao” miêu tả những điều Thuý Kiều trông thấy, vừa trông vừa suy nghĩ, nhận xét, xúc động. Đoạn văn không phải là lời của người trần thuật mà được trao cho ý thức nhân vật Thuý Kiều.
6. Giọng điệu nghệ thuật cảm thương trong Truyện Kiều
- Giọng điệu nghệ thuật là phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm văn học và là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. Giọng điệu là biểu hiện  thái độ, cảm xúc của chủ thể đối với đời sống.
- Truyện Kiều là tiếng kêu thương đau đớn, da diết. Đọc Truyện Kiều không ai quên được những lời kêu than thống thiết, nhan nhản dưới nhiều hình thức trong tác phẩm:
+  Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!
+ Thương thay thân phận lạc loài
+ Thương ôi, không hợp mà tan
+  Trăng già độc địa làm sao
Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên
Hơn nữa, tác giả xây dựng một môi trường tình thương trong tác phẩm. Hầu như các nhân vật chính diện hoặc nhân vật có chút ít lòng tốt đều thể hiện tình thương. 
Kiều là người có tình thương nhiều nhất. Nàng khóc thương cho nấm mồ vô chủ: “lòng đâu sẵn mối thương tâm/ Thoắt nghe nàng đã đầm đầm châu sa”. Nàng thương cho thân phận ê chề nhục nhã của mình: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình, mình lại thương mình xót xa”.
Thúc Ông vốn phản đối Thúc Sinh lấy Kiều mà cũng có lúc: “Thương vì hạnh, trọng vì tài”, “Quá thương chút nghĩa đèo bồng”.
Đến như Hoạn Thư-người đàn bà cay nghiệt, tàn nhẫn, cũng có lúc động lòng thương: “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương”.
- Truyện Kiều là một tác phẩm đẫm nước mắt. Nhiều người khi được nghe Thiên bạc mệnh của Kiều đều “nhăn mày rơi châu”.  Còn Kiều thì khóc nhiều vô kể. Khi nghe Vương Quan kể chuyện Đạm Tiên chết trẻ, Kiều “đầm đầm châu sa”. Tối về nhà nằm mộng nàng lại: “Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn”. Khi cả nhà thức giấc thì thấy: “Màu hoa lê hãy dầm dề giọt tương”. Khi tiễn Kim Trọng về hộ tang chú, Kiều đã “Một lời trân trọng châu sa mấy hàng”. Khi bán mình cho Mã Giám sinh, Kiều lại “Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng”. Đặc biệt, khi Từ Hải chết nước mắt Kiều đã tuôn xối xả: “Dòng thu như xối cơn sầu”…
Không chỉ con người khóc mà tiếng đàn cũng khóc:
      Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
  (đánh cho vợ chồng Hoạn Thư nghe)
       Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.
    (đánh cho Hồ Tôn Hiến nghe)
7. Màu sắc trong Truyện Kiều
- Nguyễn Du có khuynh hướng dùng màu sắc để tạo thành các hình tượng có nội dung khái quát rộng lớn, giàu giá trị thẩm mỹ. Chẳng hạn, Kiều từ đầu đến cuối là một “bông hồng”. Đối với Kim Trọng, từ đầu Kiều là “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa”. Chàng thuê nhà trọ cạnh nhà Kiều để lần tìm bóng hồng: “Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”. Thậm chí khi lập đàn tế Kiều bên bờ sông Tiền Đường, vẫn dõi theo bóng hồng: “Vời trông còn thấy cánh hồng lúc gieo”.
- Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều đầy màu sắc quí phái, vương giả và lộng lẫy.
Bảng màu trong Truyện Kiều như sau:
- Vàng kim                 30,25%
- Hồng (đào, thắm)      30,25%
- Xanh                            10,80%
- Vàng                               6,60%
- Bạc                                  7,60%
Đây là bảng màu dồi dào màu sắc tươi sáng, yêu đời, tin yêu vào cuộc sống, ngưỡng vọng về cái đẹp…
8.  Điển cố và từ ngữ Hán Việt trong Truyện Kiều
- Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng một số lượng không ít các từ ngữ Hán Việt và  điển tích, điển cố trong văn học Trung Quốc. Khi sử dụng thành ngữ, tục ngữ Hán Việt, Nguyễn Du thường căn cứ vào đặc điểm về âm thanh và ngữ điệu của tiếng Việt để dịch những thành ngữ Hán ra thành ngữ Việt. Chẳng hạn như: “Thiên nhai hải giác” thành “Chân trời góc bể”; “ Hồng diệp xích thằng” thành “lá thắm chỉ hồng”. Cũng có không ít trường hợp Nguyễn Du giữ nguyên thành ngữ Hán Việt nhằm tạo màu sắc cổ kính, uy nghiêm như “Thanh thiên bạch nhật” trong câu “ Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”; “Bình địa ba đào” trong câu “Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em”… Mặt khác, các điển tích điển cố được dùng trong tác phẩm nếu không phải là quen thuộc thì cũng được bố trí vào những văn cảnh nhất định, dễ suy ra nghĩa biểu cảm. Ví dụ: Câu Kiều: “Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về” lấy từ điển tích “Hợp Phố châu hoàn”; Câu Kiều: “Cỏ non xanh dợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” lấy ý từ câu thơ Trung Quốc cổ: “Phương thảo liên thiên bích/ Lệ chi sổ điển hoa”…
- Phần lớn điển cố được dùng trong lời thoại của nhân vật nhằm giúp họ diễn đạt những điều khó nói một cách tế nhị, văn vẻ. Chẳng hạn, Kim Trọng nói với Kiều: “Thoa này bắt được hư không/ Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về? … Tháng tròn như gửi cung mây/ Trần trần một phận ấp cây đã liều/ Tiện đây xin một hai điều/ Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?”. Kiều cũng dùng điển cố để trả lời : “Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong/ Dù khi lá thắm chỉ hồng/ Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha”.
9. Nguyễn Du-nghệ sĩ ngôn từ
Tìm hiểu ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du là nhà nghệ sĩ bậc nhất về ngôn từ trong văn học trung đại Việt Nam.
- Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã “đập vỡ” cấu trúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn từ nghệ thuật. Ông đã tránh ngôn từ tác giả thực dụng (tác giả tiểu sử) để trao quyền tự sự cho người kể chuyện, cho nhân vật, làm cho ngôn từ ấy có khả năng “nói” nhiều hơn.
- Nguyễn Du đã “đập vỡ” cú pháp thông thường, tạo ra những câu thơ “trốn” chủ từ nhằm làm cho ý nghĩa của câu thơ trở nên mơ hồ, mênh mang. Chẳng hạn: “Chập chờn cơn tỉnh cơn mê/ Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn” thì ai là kẻ chập chờn? Kiều, Kim Trọng hay cả Kiều, Kim Trọng và người kể. Đồng thời, loại câu đảo trang (đảo ngược) cũng là một hiện tượng phá vỡ mô hình cú pháp thông thường để tạo lạ hoá và tăng hiệu quả nghệ thuật. Ví dụ: “Sè sè nắm đất bên đường/ Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”; “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa”; “Đau đớn thay phận đàn bà”…
          - Ngôn từ ý tượng cũng là một phương diện cơ bản của ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều. Ý tượng là hình ảnh nảy sinh trong tâm tưởng chứ không phải là hình ảnh sao chép thực tại. Do đó, phải có cấu tạo riêng, thể hiện sự hoà quyện giữa yếu tố khách quan và chủ quan. Ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tạo ra hàng loạt ngôn từ ý tượng. Chẳng hạn, nói tới nước mắt có: giọt ngọc, giọt châu, giọt tương, giọt hồng, giọt lệ, giọt tủi, giọt riêng…; nói tới giấc ngủ: giấc xuân, giấc mai, giấc hoè, giấc tiên; nói tới chén rượu, ông dùng: chén xuân, chén quỳnh, chén đưa, chén mời, chén khuyên, chén đồng …

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét